Nằm nép mình bên sự phát triển sôi động của đô thị, những xưởng làm chén tại phường Tân Khánh, TPHCM (trước đây là phường Tân Phước Khánh, TP Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) mang một vẻ đẹp trầm mặc, phủ màu thời gian.

Lò chén thủ công của gia đình ông Sáu Sơn tại phường Tân Khánh
Theo lời kể của những người thợ kỳ cựu, nghề làm chén ở đây có nguồn gốc lâu đời, do người Hoa di dân mang sang.
Nhận thấy sự tương đồng về thổ nhưỡng và tiềm năng phát triển, người dân bản địa đã học hỏi kỹ thuật, dựng lò và dần biến nơi đây thành một làng nghề sầm uất. Đã từng có thời điểm, nghề làm chén ở đây giữ vị thế độc tôn, cả một con đường dài san sát những lò nung, thương lái tấp nập ra vào, hàng hóa làm ra không đủ bán. Thế nhưng, bức tranh ấy giờ chỉ còn là hoài niệm.



"Hồi xưa nghề này độc quyền lắm, khách đông và dễ bán vô cùng. Cả con đường này trước kia toàn là lò chén, nhưng giờ chỉ còn vỏn vẹn hai, ba lò đỏ lửa", ông Sáu Sơn – chủ lò chén đời thứ ba bồi hồi nhớ lại.
Sự suy thoái của làng nghề không đến từ sự cạn kiệt của đất mà đến từ sự thay đổi của thời cuộc. Áp lực từ quy hoạch đô thị, các vấn đề về môi trường đã khiến nhiều lò nung truyền thống buộc phải đóng cửa hoặc di dời. Bên cạnh đó, sự xuất hiện ồ ạt của các loại gốm sứ công nghiệp, đồ nhựa giá rẻ và hàng nhập khẩu với mẫu mã bắt mắt đã khiến thị phần của chén sành thủ công ngày càng thu hẹp. Lò của ông Sáu Sơn là một trong số ít những "pháo đài" cuối cùng còn sót lại, gắng gượng duy trì trước sự thay đổi của thời đại.
Dù thị trường đã thay đổi, nhưng quy trình sản xuất tại những lò chén còn sót lại ở Tân Khánh vẫn giữ nguyên vẹn sự tỉ mỉ và khuôn phép của người xưa.



Không sử dụng máy móc hiện đại hay lò gas công nghiệp, những người thợ nơi đây vẫn trung thành với kỹ thuật nung củi là yếu tố cốt lõi tạo nên màu men trắng đặc trưng và độ bền của sản phẩm.


Hành trình để một nắm đất thô trở thành chiếc chén trên bàn thờ gia tiên là cả một chuỗi lao động nhọc nhằn. Đất sau khi khai thác phải được trữ hồ, lọc kỹ để lấy phần bột tinh khiết nhất. Qua bàn tay nhào nặn và khuôn in, hình hài chiếc chén sơ khởi được hình thành và đem phơi nắng cho khô xác.
Tuy nhiên, công đoạn đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo léo nhất chính là trang trí.

Có những loại chén dán hoa văn cầu kỳ như hình ông Tiên, ông Thọ, người thợ phải dán giấy, rồi lại tỉ mẩn lột bỏ lớp giấy sau khi in hình.


Với những loại chén vẽ tay, người thợ phải dùng cọ bắc chỉ, viền từng đường nét nhỏ xíu quanh miệng chén.

Sau khi được khoác lên mình lớp men bóng bẩy, chén lại tiếp tục được cạo sửa, làm sạch phần đế chấm chân để tránh dính lò.
Điều đáng trân trọng và cũng đầy trăn trở tại làng nghề này chính là yếu tố con người. Lực lượng lao động chính tại các lò chén hiện nay đa phần là những người lớn tuổi, có người đã ngoài thất thập cổ lai hy. Họ gắn bó với nghề không chỉ vì mưu sinh mà còn vì thói quen, vì tình yêu với công việc đã nuôi sống mình từ thuở thiếu thời.




Năng suất lao động vẫn rất đáng nể, với hàng nghìn sản phẩm được hoàn thiện mỗi ngày qua đôi tay khéo léo.
Sản phẩm của các lò chén khu vực Tân Phước Khánh chủ yếu được thương lái thu mua để chuyển đi các tỉnh miền Trung như Huế, Quảng Trị. Khách thường mua loại chén này về để dán trang trí tại các đình, chùa, miếu mạo. Giá bán sỉ tại lò khá rẻ, chỉ khoảng 3.000 đồng/cái.
Lợi nhuận thấp, công việc lại vất vả, bụi bặm khiến người trẻ quay lưng với nghề. Khi được hỏi về người kế nghiệp, ông Sáu Sơn bảo: "Giờ không đứa nào chịu làm hết. Tụi nhỏ đi làm công ty ở ngoài thôi. Nghề này cực quá mà...". Những người chủ lò đời thứ ba hiện tại duy trì xưởng sản xuất phần lớn vì muốn giữ lại cơ nghiệp của tổ tiên, vì tận dụng mặt bằng và nhân công sẵn có hơn là kỳ vọng vào một sự bứt phá kinh tế.





