Nâng mức cho vay lên gấp đôi
Bộ Tư pháp mới công bố hồ sơ Dự thảo Quyết định về tín dụng đối với học sinh, sinh viên do Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo. Dự thảo được xây dựng trên cơ sở rà soát chính sách tín dụng dành cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, nhằm tiếp tục hỗ trợ người học và điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn.
Theo Bộ Tài chính, chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được thực hiện theo Quyết định số 157/2007 và Quyết định số 05/2022 đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng bộc lộ một số hạn chế, nhất là về đối tượng vay và mức vốn cho vay.
Bộ Tài chính đánh giá đây là chính sách có ý nghĩa về kinh tế, chính trị và xã hội, nhận được sự đồng thuận của các cấp, các ngành và cộng đồng.

Bộ Tài chính cho rằng, mức vay tối đa 4 triệu đồng/tháng hiện không còn phù hợp và đề xuất tăng mức vay tối đa của học sinh, sinh viên lên 8 triệu đồng/tháng (Ảnh: Hữu Thắng).
Theo Bộ Tài chính, mức vay tối đa 4 triệu đồng/tháng hiện không còn phù hợp. So với thời điểm này, học phí và các khoản sinh hoạt phí như sách vở, chi phí học tập, ăn ở, đi lại đã có nhiều thay đổi, tăng cao.
Bên cạnh đó, thực tế phát sinh nhóm học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn do cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ mất năng lực hành vi dân sự, mất tích nhưng chưa thuộc diện được tiếp cận chính sách tín dụng ưu đãi.
Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), đến ngày 31/5/2026, tổng doanh số cho vay chương trình đạt hơn 92.000 tỷ đồng, bình quân 4.870 tỷ đồng/năm. Sau 19 năm triển khai, NHCSXH đã hỗ trợ hơn 4 triệu lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận nguồn vốn ưu đãi.
Do đó, Dự thảo mở rộng đối tượng được vay vốn. Theo Điều 2, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn là công dân Việt Nam theo học tại các cơ sở đào tạo, thuộc các trường hợp: không còn cha và mẹ; hoặc cả cha và mẹ đều không có khả năng lao động, mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích. Trường hợp còn cha hoặc mẹ nhưng người này không có khả năng lao động, mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích cũng thuộc diện được vay.
Ngoài ra, học sinh, sinh viên là thành viên hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ có mức sống trung bình theo quy định cũng thuộc đối tượng vay vốn.
Dự thảo đồng thời bổ sung trường hợp gia đình học sinh, sinh viên gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học. Những trường hợp này phải có xác nhận hằng năm của UBND cấp xã nơi cư trú.
Về phương thức cho vay, Ngân hàng chính sách xã hội (gọi tắt Ngân hàng) tiếp tục thực hiện cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình của học sinh, sinh viên là người đứng tên vay vốn và giao dịch với Ngân hàng.
Đáng chú ý, trường hợp hộ gia đình không còn thành viên nào từ đủ 18 tuổi trở lên, hoặc thành viên còn lại không có khả năng lao động, không có năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích, học sinh, sinh viên được trực tiếp đứng tên vay vốn tại Ngân hàng.
Về điều kiện vay, học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc xác nhận của cơ sở đào tạo. Từ năm thứ hai trở đi, hằng năm phải có xác nhận của cơ sở đào tạo về việc đang theo học.
Đặc biệt, Dự thảo đề xuất nâng mức vốn cho vay tối đa từ 4 triệu đồng lên 8 triệu đồng/tháng/học sinh, sinh viên. Ngân hàng sẽ căn cứ nhu cầu vay vốn của khách hàng và mức thu học phí của cơ sở đào tạo để quyết định mức cho vay cụ thể, nhưng không vượt quá 8 triệu đồng/tháng.
Về thời hạn vay, Dự thảo quy định thời hạn cho vay được tính từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên đến khi người vay trả hết nợ gốc và lãi. Thời hạn này bao gồm thời gian giải ngân, thời gian từ khi người học kết thúc khóa học đến khi bắt đầu trả nợ và thời hạn trả nợ.
Trong thời gian học, người vay chưa phải trả nợ gốc và lãi. Lãi tiền vay được tính từ ngày nhận khoản vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc. Kể từ ngày người học kết thúc khóa học, sau 12 tháng, khách hàng vay vốn phải trả nợ gốc và lãi lần đầu tiên. Người vay được trả nợ trước hạn mà không phải chịu lãi phạt.
Thời hạn trả nợ do Ngân hàng quyết định nhưng tối đa bằng thời hạn giải ngân vốn vay, sau khi trừ thời gian người học được nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả học tập. Việc chia các kỳ hạn trả nợ phải theo nguyên tắc giảm áp lực tài chính tập trung tại một thời điểm cho người vay.
Riêng chương trình đào tạo có thời gian không quá một năm, thời hạn trả nợ tối đa bằng hai lần thời hạn giải ngân vốn vay.
Có thể được gia hạn nợ
Theo Dự thảo, lãi suất cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định. Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.
Một điểm đáng chú ý khác là người vay không phải thực hiện biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả tiền vay. Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu đơn giản hóa hồ sơ, trình tự, thủ tục vay vốn và trả nợ. NHCSXH được yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động cho vay, thu nợ, quản lý hồ sơ tín dụng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng; đồng thời bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu với các cơ quan, tổ chức liên quan và bảo vệ dữ liệu khách hàng.
Về xử lý trường hợp khó khăn trong trả nợ, nếu khách hàng chưa trả được nợ đúng kỳ hạn và có đơn đề nghị, NHCSXH có thể xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và an toàn vốn của ngân hàng, nhưng không làm thay đổi kỳ hạn trả nợ cuối cùng.
Trường hợp đến kỳ hạn trả nợ cuối cùng vẫn gặp khó khăn và có đơn đề nghị gia hạn, NHCSXH có thể xem xét gia hạn nợ. Thời gian gia hạn tối đa bằng một nửa thời hạn trả nợ.
Ngược lại, nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích hoặc không trả nợ đúng hạn mà không được chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn hoặc gia hạn nợ, NHCSXH sẽ chuyển số dư nợ gốc sang nợ quá hạn. Ngân hàng phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan, đơn vị liên quan để thu hồi nợ theo quy định.





