Nghị định 90/2026/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế với nhiều nội dung đáng chú ý.
Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định tại Nghị định này là những hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm: Vi phạm các quy định về y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS; vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh; vi phạm các quy định về dược, mỹ phẩm; vi phạm các quy định về thiết bị y tế; vi phạm các quy định về bảo hiểm y tế; vi phạm các quy định về dân số.
Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân vi phạm hành chính: Về dân số là 30 triệu; về y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS là 50 triệu đồng; về bảo hiểm y tế là 75 triệu đồng; về khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và thiết bị y tế là 100 triệu đồng. Mức phạt tối đa đối với tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về các lĩnh vực trên gấp 2 lần so với cá nhân vi phạm.
Theo Nghị định 90/2026/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 15 triệu đồng đối với vi phạm hành chính về dân số; đến 25 triệu đồng đối với vi phạm hành chính về y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS; đến 37.5 triệu đồng đối với vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế; đến 50 triệu đồng đối với vi phạm hành chính về khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và thiết bị y tế; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 của Nghị định này.
Nghị định 90/2026/NĐ-CP đã bổ sung một số nội dung quan trọng mà trước kia Nghị định 117/2020/NĐ-CP chưa quy định gồm:
Bổ sung khoản 7 Điều 3, Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử: Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP.
Bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 56, Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định mức phạt về đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc: Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 56 của Nghị định này. Phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 56 của Nghị định.

Ảnh minh hoạ.
Đáng chú ý, theo Nghị định 90/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm y tế (BHYT), cho mượn thẻ BHYT hoặc sử dụng sai quy định sẽ tăng mạnh, lên tới 70 triệu đồng.
Theo Nghị định này, phạt tiền đối với người sử dụng lao động không lập danh sách, lập danh sách không đầy đủ số người tham gia BHYT trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định; không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người tham gia BHYT nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng theo quy định của pháp luật theo một trong các mức:
Từ 1-2 triệu đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động; Từ 2-4 triệu đồng, khi vi phạm từ 10-dưới 50 người lao động; Từ 4-7 triệu đồng, khi vi phạm từ 50-dưới 100 người lao động; Từ 7-15 triệu đồng, khi vi phạm từ 100-dưới 500 người lao động…;Từ 25-35 triệu đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng BHYT kể từ sau thời điểm đóng chậm nhất theo khoản 8 Điều 15 Luật BHYT, trừ trường hợp quy định; chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng BHYT nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau:
Từ 500.000-1 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị dưới 5 triệu đồng…;Từ 20-25 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 120-dưới 160 triệu đồng; Từ 25-35 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 160 triệu đồng trở lên.
Bên cạnh đó, tổ chức cá nhân vi phạm còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc hoàn trả số tiền mà đối tượng tham gia BHYT bị thiệt hại (nếu có).
Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Buộc nộp số lợi bất hợp pháp có được vào tài khoản thu của quỹ BHYT; Buộc đóng đủ số tiền chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ, tương ứng với thời gian chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ theo quy định; Buộc nộp khoản tiền lãi của số tiền chậm đóng theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ, tương ứng với thời gian chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ.
Với hành vi trốn đóng BHYT, theo Điều 82 của Nghị định này, trốn đóng BHYT mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phạt tiền từ 300.000- 500.000 đồng đối với hành vi không đóng BHYT của đối tượng bắt buộc tham gia BHYT.
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người phải tham gia BHYT sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 17 Luật BHYT, trừ trường hợp không bị coi là trốn đóng BHYT theo một trong các mức sau: Từ 2-4 triệu đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động; Từ 4-7 triệu đồng, khi vi phạm từ 10-dưới 50 người lao động…; Từ 50-70 triệu đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
Với hành vi cho mượn, sử dụng thẻ BHYT sai quy định, Điều 84 của Nghị định này nêu rõ mức phạt tiền như sau: Từ 1-2 triệu đồng đối với trường hợp vi phạm nhưng chưa làm thiệt hại đến quỹ BHYT; Từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thẻ BHYT chiếm đoạt tiền BHYT dưới 10 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho quỹ BHYT dưới 20 triệu đồng.
Minh Hoa (t/h)
Link nội dung: https://thuonghieudoanhnhan.net/quy-dinh-moi-nhat-ve-bao-hiem-y-te-co-hieu-luc-tu-155-ai-cung-nen-biet-a67153.html