Thứ nhất, theo Khoản 14 Điều 6 quy định tịch thu phương tiện đối với người điều khiển xe ôtô tái phạm hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng.
Thứ 2, Khoản 9 Điều 13 quy định tịch thu phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
Thứ 3, Khoản 17 Điều 32 quy định tịch thu phương tiện đối với chủ xe ô tô, xe chở người 4 bánh có gắn động cơ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
Cắt, hàn, tẩy xóa, đục sửa, đóng lại trái phép số khung, số động cơ (số máy); đưa phương tiện đã bị cắt, hàn, tẩy xoá, đục sửa, đóng lại trái phép số khung, số động cơ (số máy) tham gia giao thông;
Cải tạo xe ôtô loại khác thành xe ô tô chở người;
Đưa phương tiện quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông;
Chủ phương tiện tái phạm hành vi chở vượt trên 100% số người quy định được phép chở của phương tiện.
Tái phạm hành vi đưa xe ô tô tải (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) có kích thước thùng xe không đúng với thông số kỹ thuật được ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe tham gia giao thông;
Tái phạm hành vi trực tiếp điều khiển phương tiện hoặc giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi:
Điều khiển xe (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150%;
Điều khiền xe kéo theo rơ moóc, sơ mi rơ moóc mà khối lượng toàn bộ (bao gồm khối lượng bản thân rơ moóc, sợ mi rơ moóc và khổi lượng hàng chuyên chờ) của rơ moóc, sơ mi rơ moóc vượt khối lượng cho phép kéo theo được ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150%;
Thứ 4, Điểm b khoản 3 Điều 35 cũng quy định tịch thu phương tiện đối với người điều khiển phương tiện thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: Đua xe ô tô trái phép trên đường giao thông.